Tag Archives: kỹ thuật nuôi tôm sú

Nâng cao chất lượng môi trường nước

Hiện nay chất lượng nguồn nước cung cấp cho các hoạt động nuôi trồng thủy sản đang bị suy giảm nghiêm trọng so với những năm trước đây, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các đối tượng nuôi.

Nâng cao chất lượng môi trường nước

Môi trường nước ảnh hưởng trực tiếp đến các đối tượng nuôi 

Nguyên nhân gây ô nhiễm nước trong hoạt động thủy sản được phân thành hai loại, cụ thể: tag: kỹ thuật nuôi tôm sú

Ô nhiễm nước trong hệ thống nuôi trồng thủy sản: Do thức ăn thừa, chất thải của thủy sản nuôi và các hóa chất sử dụng trong quá trình nuôi hòa tan vào nước trong ao nuôi và phần lớn tích tụ ở đáy ao nuôi tạo thành một lớp bùn ô nhiễm. Thành phần lớp bùn: protein, lipid, axit béo, photpholipid, các hoocmon, carbohydrate, chất khoáng và vitamin, vỏ tôm lột xác… Lớp bùn này luôn ngập nước, yếm khí nên tạo điều kiện cho các vi sinh vật yếm khí phát triển mạnh, phân hủy các hợp chất trên thành các khí độc H2S, NH3, CH4… hòa tan vào trong nước và rất có hại cho thủy sinh vật. Khi H2S đạt nồng độ 1,3 ppm có thể sẽ gây sốc, tê liệt và dẫn đến tôm chết. NH3 sinh ra từ quá trình phân hủy yếm khí thức ăn tồn dư gây độc cho tôm, cá nuôi, khi chuyển hóa ở dạng NO2- sẽ rất độc và gây chết cho tôm, cá ở từ nồng độ 0,5 ppm trở lên.

Ô nhiễm nước bên ngoài hệ thống nuôi trồng thủy sản: Nguồn nước bên ngoài hệ thống nuôi thủy sản bị ô nhiễm do nguồn nước thải nuôi thủy sản mang theo lượng thức ăn thừa, chất thải của thủy sản nuôi, các loại hóa chất, thuốc thú y thủy sản trong quá trình nuôi thải ra môi trường xung quanh. Và chính nguồn nước ô nhiễm bên ngoài ao nuôi này sẽ là nguồn nước cấp trở lại cho các hệ thống nuôi thủy sản.

Ngoài ra, nguồn nước cung cấp cho các hệ thống nuôi thủy sản còn bị ô nhiễm do nước thải sinh hoạt, nước thải nông nghiệp… Có thể nói, chất lượng nước đầu vào cho các hệ thống nuôi thủy sản hiện nay rất kém.

Tất cả các cơ sở sản xuất tôm giống, cá giống cần có hệ thống bể lắng để loại bỏ các chất hữu cơ lơ lửng kích thước lớn, sau đó, qua hệ thống lọc tinh để loại bỏ các chất hữu cơ lơ lửng kích thước nhỏ, tiếp đến sẽ xử lý bằng ôzôn, tia cực tím và tuần hoàn với sản phẩm EDTA để nguồn cấp đạt tiêu chuẩn chất lượng trước khi cấp cho các trại sản xuất.

Sử dụng công nghệ vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ hòa tan trong nước và các chất hữu cơ lắng tụ ở đáy ao nhờ các vi khuẩn dị dưỡng. Ôxy hóa NH3 thành NO2- và nhanh chóng chuyển sang NO3- nhờ các vi khuẩn tự dưỡng. Hình thành hệ vi sinh vật có lợi và cạnh tranh với hệ vi sinh vật gây bệnh trong ao nuôi. Cải thiện chất lượng nước và cải thiện đáy ao nuôi.

Bên cạnh đó, người nuôi cần áp dụng một số công nghệ trong xử lý nước và trong quá trình nuôi. Công nghệ lọc sinh học để loại bỏ chất rắn dạng lơ lửng và các khí độc hòa tan trong nước như: Lọc chảy nhỏ giọt (trickling filter), lọc quay (rotating biological contactor), lọc hạt (bead filter), lọc giá thể chuyển động (moving bed biofilm reactor), lọc giá thể chìm (submerged filter), lọc dòng đáy (fluidized bed filter). Áp dụng công nghệ Biofloc nhằm loại bỏ các chất dinh dưỡng dư thừa để nâng cao chất lượng nước thông qua chuyển hóa vào sinh khối vi khuẩn dị dưỡng đồng thời sử dụng biofloc làm thức ăn cho các đối tượng thủy sản.

Ngoài ra, cần chủ động thay đổi phương pháp nuôi, nuôi kết hợp với một số đối tượng thủy sản có khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng dư thừa, các loại hóa chất và khí độc hòa tan trong nước của ao nuôi. Nuôi kết hợp với một số động vật thân mềm hai mảnh vỏ như hàu, vẹm sẽ làm giảm đáng kể hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), mùn bã hữu cơ, tổng Nitơ (TN), tổng lân (TP), chất diệp lục (Chlorophyll-a), vi khuẩn tổng số trong nước thải từ các ao nuôi tôm, cá thâm canh… Hay nuôi kết hợp với một số loài rong biển có giá trị kinh tế có khả năng làm giảm hàm lượng các chất hữu cơ và khí độc hòa tan trong nước. Nuôi kết hợp với hải sâm hoặc với  một số loài cá ăn thực vật và mùn bã hữu cơ như cá măng, cá đối, cá rô phi sẽ có tác dụng tích cực trong việc trong việc hạn chế lượng chất thải hữu cơ tích tụ trong ao nuôi. tag: ky thuat nuoi tom su

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nang-cao-chat-luong-moi-truong-nuoc-59c9bcb5e49519ef6c8b456c.html

Sử dụng thức ăn tươi trong nuôi trồng thủy sản: Những hệ lụy

Thời gian gần đây, thức ăn tươi phục vụ nuôi trồng thủy sản (NTTS) trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa khan hiếm, giá tăng cao khiến chi phí đầu tư nuôi cá, tôm và một số đối tượng khác tăng theo. Ngoài ra, việc sử dụng thức ăn tươi cũng để lại nhiều hệ lụy, gây ô nhiễm môi trường làm chết thủy sản nuôi.

Sử dụng thức ăn tươi trong nuôi trồng thủy sản: Những hệ lụy

Giá thức ăn tăng cao khiến chi phí đầu tư nuôi trồng thủy sản của người dân tăng lên

Chi phí tăng

Mới đây, khi đến các vùng trọng điểm NTTS trên địa bàn tỉnh như: Cam Ranh, Cam Lâm, Ninh Hòa, Vạn Ninh, Nha Trang, chúng tôi được các chủ bè nuôi cá, tôm hùm chia sẻ, thời gian gần đây, các loại thức ăn tươi khan hiếm, giá tăng cao, riêng giá cá tạp lên đến 12.000 đồng/kg (trước đây cao nhất chỉ 7.000 đồng/kg) khiến chi phí đầu tư đội lên, lợi nhuận sau khi xuất bán thủy sản không cao. tag: kỹ thuật nuôi tôm sú

Ông Lê Văn Minh, người nuôi cá chẽm ở xã Cam Thành Bắc (huyện Cam Lâm) cho biết: “Gia đình tôi nuôi 40.000 con cá chẽm trên 4 đìa nuôi, mỗi ngày cho ăn cả tấn thức ăn tươi. Mới đây, tôi xuất bán 1 đìa, sản lượng 10 tấn, giá bán 63.000 đồng/kg, thu được 630 triệu đồng, trong đó chi phí mua thức ăn từ khi thả giống đến khi thu hoạch đã mất 450 triệu đồng, tiền điện 50 triệu đồng, tiền giống 70 triệu đồng, tính ra cả vụ nuôi tôi chỉ lãi vài chục triệu đồng. Nếu giá thức ăn không tăng cao như hiện nay thì lợi nhuận sẽ cao hơn”.

TP. Cam Ranh hiện nay có gần 30.000 lồng bè, trong đó có 20.000 lồng nuôi tôm hùm, số còn lại là nuôi cá bớp, cá mú… Mỗi ngày, lượng thức ăn tươi phục vụ NTTS tại địa phương này lên đến hàng trăm tấn. Có mặt tại bến thuyền phục vụ NTTS tại lăng Ông Nam Hải (phường Cam Phúc Bắc, TP. Cam Ranh), chúng tôi được bà Nguyễn Thị Bốn, người chuyên cung cấp thức ăn tươi cho các bè nuôi cá ở địa phương cho biết: “Tại khu vực này có 3 vựa bán thức ăn tươi cho các bè nuôi cá, mỗi ngày tiêu thụ khoảng 10 tấn cá tạp các loại. Thời gian gần đây, do các ghe giã cào trong tỉnh khai thác đạt sản lượng thấp nên thức ăn cho thủy sản chủ yếu mua từ Bình Thuận, Ninh Thuận. Chất lượng cá tạp lúc tốt, lúc xấu và giá tăng cao hơn trước đến 30 – 40%. Tuy nhiên, để duy trì nghề nuôi, người dân vẫn chấp nhận. Hiện tại, hàng chục điểm bán thức ăn tươi ven vịnh Cam Ranh đều chung tình trạng này”.

Hiện nay, tuy đã có thức ăn công nghiệp phục vụ cho các đối tượng NTTS nhưng chỉ có người nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng và một số ít hộ nuôi cá sử dụng, còn lại các hộ nuôi cá bớp, cá chim, tôm hùm, ốc hương, cá mú, cá chẽm… vẫn dùng thức ăn tươi là các loại cá tạp, sò, tôm loại nhỏ… Ông Phan Tấn Tý, người nuôi cá bớp ở xã Ninh Ích (thị xã Ninh Hòa) cho biết: “Một số hộ nuôi cá ở vịnh Vân Phong đã chuyển sang sử dụng thức ăn công nghiệp. Tuy loại thức ăn này có nhiều ưu điểm về chất lượng, song chi phí cao hơn khoảng 30%, trong khi giá bán thủy sản không tăng nên nhiều hộ nuôi chọn sử dụng thức ăn tươi”.

Những hệ lụy

Một thực tế hiện nay, khi thức ăn tươi khan hiếm, các loại cá tạp không đảm bảo chất lượng từ các địa phương khác cũng được đưa về để phục vụ NTTS trên địa bàn tỉnh. Điều này đã để lại nhiều nỗi lo cho người nuôi. Một trong những nguyên nhân khiến thủy sản nuôi trên địa bàn tỉnh chết ở nhiều vùng nuôi từ giữa năm 2016 đến nay một phần là do thức ăn không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng.

Một hệ lụy khác, việc sử dụng thức ăn tươi không đảm bảo chất lượng gây ô nhiễm nguồn nước vùng nuôi. Theo thống kê của Chi cục Thủy sản, toàn tỉnh có 9.893ha NTTS, trong đó có 1.200ha nuôi thủy sản nước ngọt, gần 5.000ha nuôi thủy sản nước lợ, nuôi mặt nước ven biển khoảng 3.785ha. Riêng cá bè có khoảng 4.500 lồng, tôm hùm khoảng 25.000 lồng. Với diện tích nuôi lớn như vậy, lượng thức ăn hàng ngày cho thủy sản nuôi toàn tỉnh rất lớn. Trong khi đó, việc người dân không theo dõi kỹ khả năng bắt mồi của đối tượng nuôi, cho thừa thức ăn đã tác động lớn đến môi trường vùng nuôi. Đó là chưa kể thức ăn không đảm bảo chất lượng còn gây ra dịch bệnh khiến thủy sản nuôi bị chết.

Theo ông Nguyễn Ngọc Sơn – Phó Chủ tịch UBND TP. Cam Ranh, hiện nay, nhiều vùng NTTS ven vịnh Cam Ranh đã bị ô nhiễm nặng, lớp bùn tích tụ lâu ngày từ NTTS và một số hoạt động khác có nơi lên đến gần 0,5m. Đó là chưa kể việc người nuôi vứt bừa bãi các túi ni lông đựng thức ăn khiến những thứ này trôi dạt khắp nơi, tấp vào bờ gây ô nhiễm. Từ thực tế trên, bà Trần Thanh Thúy – Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y khuyến cáo, người dân nên chuyển sang sử dụng một phần thức ăn công nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường; đối với thức ăn tươi cần chọn cá tươi, bảo quản đúng cách để đảm bảo chất lượng. Trong quá trình nuôi, cần chú ý theo dõi tình trạng hoạt động, mức độ bắt mồi của đối tượng nuôi để tránh cho thừa thức ăn, gây lãng phí và ô nhiễm môi trường vùng nuôi. tag: ky thuat nuoi tom su

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-thuc-an-tuoi-trong-nuoi-trong-thuy-san-nhung-he-luy-59cc66c2e495193f288b456b.html

Ngưỡng chịu đựng của ao tôm

Ngưỡng chịu đựng của ao tôm là khối lượng tôm tối đa mà ao tôm có thể gánh nổi. Đơn vị tính là kg tôm/m2. Ngưỡng chịu đựng này phụ thuộc vào hệ thống hạ tầng ao nuôi (đáy ao, bờ ao, độ sâu), khả năng đầu tư trang thiết bị (máy quạt, máy thổi khí), chất lượng con giống, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý của người nuôi… tag: kỹ thuật nuôi tôm sú

Ngưỡng chịu đựng của ao tôm

Cần quản lý tốt chất lượng ao nuôi tôm 

Tác động

Theo các nghiên cứu, càng về cuối vụ nuôi, chất thải (bao gồm phân tôm, thức ăn thừa, xác tảo chết) càng tích tụ nhiều ở đáy ao, tạo thành lớp bùn đen và sự phân hủy các chất hữu cơ sẽ tạo thành khí độc như H2S làm tôm chết. Chất thải cũng là nguồn dinh dưỡng cho tảo phát triển mạnh, khi tảo tàn và phân hủy sẽ khiến cho nhu cầu ôxy trong ao nuôi tăng vọt.

Tôm càng lớn thì tổng khối lượng tôm trong ao càng cao, ao nuôi trở nên chật hẹp. Môi trường biến động xấu làm cho tôm suy yếu, dễ bị nhiễm bệnh, trong nhiều trường hợp người nuôi phải thu hoạch tôm khẩn cấp. Việc làm này sẽ gây thiệt hại lớn cho người nuôi vì tốn nhiều tiền mua thuốc chữa trị trước đó, cộng với việc cỡ tôm nhỏ nên giá bán thấp.

Giải pháp kiểm soát

Theo Theo TS Pornlerd Chanratchakool (Thái Lan) giá trị ngưỡng chịu đựng như sau: Tại Thái Lan: Ao sâu 1,5 m, 36 mã lực/ha (quạt nước), giá trị ngưỡng 1,8 – 2,5 kg tôm/m2 ao (tôm thẻ chân trắng); Việt Nam: Ao sâu 1,2 m, 25 mã lực/ha (quạt nước), giá trị ngưỡng 1,3 kg (ao đất) – 1,5 kg (ao bạt) tôm/m2 ao (tôm thẻ chân trắng) và 0,6 – 0,8 kg tôm/m2 ao (tôm sú).

– Xác định lượng giống thả vào ao: Người nuôi không nên thả quá dày với tâm lý tôm hao hụt bớt là vừa mà cần phải chủ động thả mật độ vừa phải để tránh gây áp lực quá lớn lên ao nuôi.

–  Xác định thời điểm ao tôm tới ngưỡng: So với giá trị ngưỡng ao đất là 1,3 kg/m2 thì tôm vẫn còn phát triển tốt vì chưa đạt ngưỡng. Như vậy, trước khi tôm đạt ngưỡng, người nuôi cần chủ động thu tỉa để tạo môi trường thông thoáng giúp tôm phát triển tiếp hoặc chủ động tăng cường quạt khí cũng như kiểm soát mật độ tảo thích hợp (không cho tảo quá dày).

Ao nuôi tôm công nghiệp cần có độ sâu từ 2 – 2,5 m, đảm bảo giữ được nước cao nhất từ 1,6 – 1,8 m. Mật độ thả hợp lý đối với tôm sú nuôi thâm canh 15 – 20 con/m2, bán thâm canh 8 – 14 con/m2; tôm thẻ chân trắng 30 – 80 con/m2. Ngoài ra, trong quá trình nuôi cần đảm bảo máy quạt đầy đủ, người nuôi nắm vững kỹ thuật và có kinh nghiệm trong ổn định các chỉ số môi trường ao nuôi khi có biến động do thời tiết.

Cùng đó cũng cần lưu ý, sau những cơn mưa kéo dài nên kiểm tra lại độ pH trong ao. Nếu độ pH giảm thấp thì dùng vôi nông nghiệp hòa tan trong nước với liều lượng từ 10 – 20 kg/1.000 m3; duy trì mực nước trong ao từ 1,3 – 1,8 m để tránh sự biến động của yếu tố môi trường. Đối với hiện tượng tảo tàn, người nuôi có thể bón phân vi sinh, để khử khí độc trong ao nên sử dụng men vi sinh định kỳ. tag: ky thuat nuoi tom su

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nguong-chiu-dung-cua-ao-tom-59ed4fdde4951916108b456b.html

Giảm được 30% nhiệt độ khi làm mái che chống nóng cho tôm

Làm nhà kín bằng khung thép, lợp tấm nhựa trắng, hoặc phủ lưới chống nóng… là những giải pháp chống nóng cho tôm vào mùa hè đang được áp dụng tại vùng tôm Nghệ An.

Giảm được 30% nhiệt độ khi làm mái che chống nóng cho tôm

Hệ thống chống nóng cho tôm của ông Ngô Xuân Đại, xóm 4, xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu. Ảnh: Xuân Hoàng

Hệ thống chống nóng cho tôm của ông Ngô Xuân Đại, xóm 4, xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu. Để chống gió lốc, nắng nóng, toàn bộ ao đã được phủ một lớp lưới bằng cước. Ông Đại cho biết, đầu tư chống nóng như thế này cho 1 ha khoảng gần 200 triệu đồng. tag: kỹ thuật nuôi tôm sú 

Ông Ngô Xuân Đại ở xóm 4, xã Diễn Trung (Diễn Châu) có 5 ha ao đầm nuôi tôm. Với kinh nghiệm nuôi tôm nhiều năm, ông Đại cho biết: Nuôi tôm vào mùa hè khó khăn nhất là nắng nóng, khiến con tôm bị ảnh hưởng sức khỏe, nhất là những ngày nhiệt độ lên đến gần 40 độ C. Do vậy, để nuôi tôm có hiệu quả vào mùa hè, tốt nhất là chống nóng cho tôm bằng mọi cách. Tuy nhiên phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi gia đình.

Với ông Đại, nhiều năm qua, ông đầu tư hàng trăm triệu đồng phủ lưới chống nóng cho tôm. Khung được hàn bởi vật liệu thép, phủ lưới chống nóng lên. Chi phí chống nóng cho 1 ha khoảng gần 200 triệu đồng. Hiệu quả cho thấy, giảm nhiệt độ được khoảng 30% cho ao tôm.

Đầu tư xây dựng hệ thống nhà kín, nên ao đầm nuôi tôm của gia đình ông Hoàng Xuân Tin, xã Quỳnh Bảng (Diễn Châu) luôn mát về mùa hè, ấm vào mùa đông. Ảnh: Xuân Hoàng

Chống nóng hiệu quả nhất là mô hình nuôi tôm trong nhà kín của ông Hoàng Xuân Tin, xã Quỳnh Bảng (Quỳnh Lưu). Gia đình ông Tin có 7 ha mặt nước nuôi tôm, trong đó hệ thống nhà lợp mái này được xây dựng trên diện tích 1.500 m2 mặt nước, với mức đầu tư hơn 1 tỷ đồng, nuôi tôm trong nhà kín không những chống nóng tốt mà còn chống rét cho tôm rất hiệu quả.

Đối với những hộ không có điều kiện thì áp dụng nhiều giải pháp đối phó. Anh Lê Minh Thắng, xóm 5 xã Diễn Trung (Diễn Châu) chia sẻ: Do kinh phí đầu tư chống nóng cho tôm nhiều nên gia đình không có điều kiện thực hiện.

Để chống nóng cho tôm vào mùa hè, bằng cách anh điều chỉnh mực nước trong ao lên 120 – 130 cm, thay cho 80 – 100 cm về mùa đông, đồng thời thay nước liên tục và tăng cường quạt nước, nhằm khuấy đảo nước, đảm bảo cân bằng nhiệt độ, độ mặn và ôxy ở lớp nước mặt và lớp nước dưới; tránh hình thành điều kiện yếm khí gây tích tụ khí độc ở tầng đáy, cũng như sự chênh lệch nhiệt độ và độ muối có thể làm tôm sốc.

Người nuôi tôm cho biết, để chống nóng cho tôm vào mùa hè, nếu không có kinh phí xây dựng hệ thống che mát thì điều chỉnh mực nước trong ao cao lên và tăng cường quạt nước trong ngày. Ảnh: Xuân Hoàng

Nghệ An hiện nuôi hơn 1.200 ha tôm thẻ chân trắng. Chi cục Chăn nuôi – Thú y khuyến cáo: Về mùa hè, nhiệt độ lên mức 39 – 40 độ C nếu không có giải pháp chống nóng thì con tôm rất dễ bị bệnh. Tuy nhiên do kinh phí cao nên diện tích ao đầm được đầu tư hệ thống chống nóng rất ít, hầu hết là chống nóng bằng cách điều chỉnh mực nước trong ao và thay đổi nước liên tục. tag: ky thuat nuoi tom su

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giam-duoc-30-nhiet-do-khi-lam-mai-che-chong-nong-cho-tom-59f29a19e49519293d8b456e.html

Kinh nghiệm chọn tôm giống và nâng cao tỷ lệ sống, tăng năng suất tôm nuôi

1. Kinh nghiệm chọn tôm giống

Trong những năm qua, nuôi tôm công nghiệp (thâm canh) đã có những bước phát triển mạnh về diện tích, năng suất và sản lượng. Cùng với đó là nhu cầu về con giống ngày càng tăng cao cả về số lượng và chất lượng. Chúng tôi khuyến cáo một số kinh nghiệm chọn tôm giống như sau:

Kinh nghiệm chọn tôm giống và nâng cao tỷ lệ sống, tăng năng suất tôm nuôi

Chọn mua tôm giống thả nuôi từ các cơ sở sản xuất uy tín và thương hiệu, có đàn tôm bố mẹ đảm bảo chất lượng theo quy định; phải kiểm tra một số loại bệnh đặc trưng như MBV, đốm trắng, đầu vàng, taura, hoại tử gan tụy… (có giấy kiểm dịch) trên tôm giống. tag: kỹ thuật nuôi tôm sú

Ngoài phương pháp kiểm tra bằng máy, cần đánh giá cảm quan về cơ sở sản xuất trước khi lựa chọn mua giống: Trại giống phải sạch sẽ, thoáng mát, đầy đủ các trang thiết bị, hạ tầng để sản xuất giống; dụng cụ sản xuất phải được xử lý bằng các hóa chất khử trùng theo quy định và phơi khô; kiểm tra các bể giống có tôm chết hay không; sục khí, thành bể có sạch sẽ hay không; trong bể nuôi có sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất hay không.

– Kiểm tra tôm giống bằng cảm quan: Màu sáng, sắc tố thể hiện rõ, đôi râu khép lại, các đốt bụng thon, dài, cơ bụng căng đầy, thịt đầy vỏ, đầu và thân cân đối; tôm bơi khỏe ngược dòng nước, bám vào thành bể tốt; phản xạ tốt khi gõ vào dụng cụ chứa; phụ bộ tôm hoàn chỉnh, không có ký sinh trùng bám, đường ruột đầy thức ăn, không bị bệnh phát sáng.

Có thể dùng phương pháp ngừng sục khí bể giống trong 2 phút để quan sát tôm. Tôm post bơi ngược dòng phản xạ nhanh là tôm khỏe mạnh, tập trung ở giữa là tôm có chất lượng kém; gan tụy to và có nhiều giọt mỡ khi quan sát dưới kính hiển vi là tôm tốt, còn nếu gan tụy nhỏ, có màu trắng, ít giọt mỡ là tôm nhiễm bệnh. Quan sát dưới kính hiển vi để có thể phát hiện sự bám bẩn trên tôm post bởi các loại ký sinh trùng và nấm. Sự hiện diện của ký sinh trùng và nấm trên tôm chứng tỏ chất lượng nước của bể ương giống kém.

Kiểm tra sức khỏe tôm giống bằng cách gây sốc bằng Formol trước khi thả. Cụ thể, thả 100 – 200 con tôm giống vào chén hoặc cốc thủy tinh đựng dung dịch Formol nồng độ 100 ppm và theo dõi trong 30 phút, nếu tỷ lệ sống trên 95% là đạt yêu cầu. Ngoài ra, khi thả tôm giống vào thau, dùng tay khuấy đều, tôm khỏe thường bơi ngược dòng nước hoặc bám chung quanh thành thau, tôm yếu tụ lại ở giữa. Nếu có trên 5% tôm con thả trôi theo dòng nước là giống tôm yếu, tôm chất lượng kém không nên chọn mua.

2. Kinh nghiệm nâng cao tỷ lệ sống và tăng năng suất tôm nuôi

Để nâng cao tỷ lệ sống và tăng năng suất tôm nuôi cần thực hiện tốt một số giải pháp như:

a. Về nâng cao tỷ lệ sống

Bố trí khu vực ao nuôi nằm trong quy hoạch, hệ thống cấp thoát nước bố trí hợp lý. Cải tạo ao nuôi đúng quy trình kỹ thuật. Lựa chọn con giống đảm bảo chất lượng và sạch bệnh. Lựa chọn phương thức vận chuyển và cách thả giống phù hợp. Quản lý và chăm sóc ao tốt, lựa chọn thức ăn đảm bảo chất lượng. Sử dụng vi sinh và quản lý tốt môi trường nước ao nuôi. Vệ sinh khu vực nuôi.

b. Về tăng năng suất

Quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản, vùng nuôi tôm thâm canh, nuôi tôm kết hợp trồng lúa, nuôi tôm sinh thái, quy hoạch nuôi tôm gắn với bảo vệ môi trường. Phát triển cơ sở hạ tầng cho nuôi tôm, nhất là hệ thống thủy lợi, điện cho các vùng nuôi tôm công nghiệp. Đẩy mạnh chính sách về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho quản lý và chăm sóc tôm nuôi. Xây dựng nhiều mô hình nuôi tôm để trình diễn, nhân rộng các mô hình nuôi tôm có hiệu quả.

Phát triển quy trình nuôi tôm sạch, khuyến khích sử dụng chế phẩm sinh học, hạn chế sử dụng thuốc, hóa chất trong quá trình nuôi; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất giống để nâng cao sản lượng tôm nuôi; xây dựng và áp dụng lịch mùa vụ một cách triệt để nhằm hạn chế rủi ro, thiệt hại do diễn biến bất thường của thời tiết.

Đẩy mạnh các giải pháp phát triển nuôi tôm công nghiệp nhấn mạnh đến công tác tập huấn, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ, kĩ thuật nuôi, sản xuất tôm giống theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả tôm nuôi. Đẩy mạnh công tác quản lý chất lượng giống thủy sản, chống bơm chích tạp chất vào tôm, không sử dụng chất bị cấm trong nuôi trồng và bảo quản tôm nguyên liệu nhằm đáp ứng nhu cầu tôm sạch của người tiêu dùng và thị trường xuất khẩu. Tăng cường quản lý môi trường nuôi tôm, kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả các ổ dịch mới phát sinh, tránh lây lan ra diện rộng.

Liên minh hợp tác xã tích cực hướng dẫn, hỗ trợ thành lập các trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nuôi tôm công nghiệp và sản xuất kinh doanh tôm giống tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình nuôi trồng, chăm sóc và phòng ngừa dịch bệnh.

Công an tỉnh tiếp tục chỉ đạo thực hiện đồng bộ các biện pháp đảm bảo an ninh nông thôn, quan tâm chỉ đạo việc phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng trộm cắp tôm nuôi, thuốc cá, thuốc tôm để cơ sở, hộ gia đình yên tâm đầu tư vốn, diện tích, khoa học kĩ thuật vào việc nuôi tôm.

Con giống là yếu tố quan trọng quyết định trên 50% sự thành công của vụ nuôi. Muốn nâng cao được tỷ lệ sống và tăng năng suất tôm nuôi, ngoài việc đầu tư cơ sở hạ tầng ao nuôi tốt, mua tôm giống ở cơ sở có uy tín thì việc nắm chắc kỹ thuật chọn tôm giống là một điều hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi người nuôi tôm. Các hộ nuôi phải đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cho ao nuôi phải đầy đủ và hiện đại thì mới có thể giúp cho việc tăng năng suất và sản lượng tôm nuôi. Thường xuyên nhận chuyển giao áp dụng những quy trình kỹ thuật nuôi tôm mới giúp năng suất vụ nuôi được tăng cao.

Cần có chính sách hỗ trợ, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng nuôi tôm để có thể áp dụng hình thức nuôi tôm an toàn sinh học góp phần nâng cao chất lượng và năng suất tôm nuôi, đưa nghề nuôi tôm phát triển theo hướng bền vững.

– Hệ thống khuyến nông từ Trung ương tới địa phương tích cực công tác đào tạo tập huấn để người dân nắm vững được các phương pháp chọn giống tôm để từ đó có thể lựa chọn được con giống tốt khi thả nuôi.

– Bộ Nông nghiệp và PTNT, Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh tăng cường quản lý, kiểm tra nguồn gốc tôm giống bố mẹ và kiểm tra chất lượng, giá thành các loại nguyên liệu, vật tư nhập khẩu phục vụ cho nuôi trồng thủy sản… nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro cho người nuôi tôm, đồng thời cảnh báo giúp cho người nuôi có giải pháp phòng ngừa dịch bệnh. tag: ky thuat nuoi tom su

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kinh-nghiem-chon-tom-giong-va-nang-cao-ty-le-song-tang-nang-suat-tom-nuoi-59f693e8e495197c4b8b456c.html

Loại bỏ váng xanh trên mặt ao nuôi cá

Váng xanh nổi trên mặt ao là do tảo già chết tạo thành váng. Nguyên nhân có tảo nhiều là do ao thừa dinh dưỡng, dinh dưỡng từ thức ăn thừa, bón nhiều phân, chất thải của cá, vệ sinh ao không tốt.

Loại bỏ váng xanh trên mặt ao nuôi cá

Hỏi: Xin chuyên gia cho biết cách loại bỏ váng xanh nổi trên mặt ao nuôi cá?

Trả lời: Váng xanh nổi trên mặt ao là do tảo già chết tạo thành váng. Nguyên nhân có tảo nhiều là do ao thừa dinh dưỡng, dinh dưỡng từ thức ăn thừa, bón nhiều phân, chất thải của cá, vệ sinh ao không tốt. Để hạn chế tảo phải loại trừ được các nguyên nhân gây ra như cho ăn theo phương pháp “4 đúng”, hạn chế bón phân, thay nước định kỳ và vệ sinh ao thường xuyên. tag: kỹ thuật nuôi tôm sú

Khắc phục: Bón chế phẩm sinh học định kỳ, thay nước không để ô nhiễm, thay 30%/ngày, thay 3 ngày liên tục. Bón vôi định kỳ 2 – 4kg/100m3 nước, bón 2 lần/tháng. Chú ý sau mỗi vụ nuôi phải xử lý ao nuôi đúng quy trình kỹ thuật.

Hỏi: Tôi thầu khu đầm rộng 3ha, sâu 1,6m nuôi cá chuối đã 1 năm. Nửa tháng nay cá có hiện tượng lờ đờ lao đầu vào vào bờ rồi chết. Ngoài ra không có hiện tượng khác. Chưa dùng thuốc đẻ điều trị. Xin hỏi nguyên nhân và cách khắc phục?

Trả lời: Nuôi cá chuối nếu dùng thức ăn tươi sống thì nước ao rất nhanh bị ô nhiễm và cá dễ bị bệnh. Trước hết anh bắt cá đang bị bệnh lên kiểm tra xem vây, vảy, mổ quan sát nội tạng có xuất huyết không… Nếu cá có biểu hiện lở loét, ruột xuất huyết… là đã bị bệnh đốm đỏ lở loét, xuất huyết. Nguyên nhân do nước ô nhiễm, vi khuẩn phát triển gây bệnh cho. Khử trùng nước bằng một trong các loại sau: KMn04; Lodine; BKC; TCCA… liều sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm. Sau khi khử trùng nước xong trộn một số loại thuốc sau vào thức ăn cho cá ăn liên tục từ 5 – 7 ngày: Doxycycllin, Florphenicol hoặc Tiên Đắc. Không để nước ô nhiễm, cho cá ăn bổ sung vitamin C, thực hiện cho ăn theo phương pháp “4 đúng”, bổ sung thêm chế phẩm sinh học.

Hỏi: Cây dưa hấu gặp mưa kéo dài ở thời điểm ra hoa đến phát triển quả hay bị rụng nụ, quả ít đậu thậm chí bị nứt, thối quả khi lớn. Xin chuyên gia cho biết cách khắc phục hiện tượng này.

Trả lời: Chúng tôi đưa ra một số biện pháp tác động tích cực như sau:

– Làm vòm khum ni lông trắng cao 0,8 – 1m để giảm bớt tác hại của mưa ảnh hưởng đến toàn bộ cây dưa. Tuy nhiên biện pháp này đòi hỏi phải đầu tư kinh phí song cách làm này là hiệu quả nhất.

– Đối với trường hợp trồng ngoài đồng ruộng bạn cần khắc phục tình thế bao gồm các biện pháp:

+ Cách 1: Sử dụng túi ni lông loại nhỏ chuyên dùng đựng thuốc (kích thước 3 x 4cm) chụp hoa đã thụ phấn lại. Chú ý gập mép túi ngược lên trên để nước mưa đọng lại chỗ gấp. Dùng túi ni lông chỉ nên giữ trong khoảng 1 ngày. Ngày hôm sau tranh thủ lúc trời tạnh ráo cần mở túi cho thông thoáng.

+ Cách 2: Sử dụng cốc nhựa mỏng chuyên dùng đựng chè, cháo úp hoa đã được thụ phấn lại. Việc làm này duy trì được vài hôm mà không cần mở như dùng túi ni lông song tốn kém hơn.

Khi quả đã hình thành cần sử dụng phân bón lá giàu canxi – bo để phun giúp quả cứng chắc, tầng rời không hình thành, quả lại ít bị bệnh.

Không nên dùng chất kích thích tăng trưởng trong thời gian dưa ra hoa cũng như nuôi quả vì sẽ làm sinh trưởng cây bị rối loạn.

Trong thời gian dưa nuôi quả nên bổ sung thêm 1 – 2 lần canxi và tăng cường bón kali sunphat để quả chắc, to nhanh, vỏ cứng.

Phun thuốc định kỳ cho dưa khi trời tạnh ráo để nấm bệnh và vi khuẩn không phát sinh gây hại. Nên sử dụng các loại thuốc an toàn cho cây cũng như an toàn cho sản phẩm quả và tuân thủ nghiêm ngặt thời gian cách ly cho mỗi loại thuốc sử dụng. Ngoài ra cần thường xuyên nạo vét các dõng luống và tháo kiệt nước để rễ dưa (lúc này đã bò xuống mé luống) không bị úng thối chóp làm cây chết rũ. tag: ky thuat nuoi tom su

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/loai-bo-vang-xanh-tren-mat-ao-nuoi-ca-59f2a16ee495196c5f8b456c.html

Phòng trị bệnh cho cá trong mùa mưa lũ

Các dạng bệnh ký sinh trùng trên cá nuôi (đặc biệt là bệnh ngoại ký sinh trùng) thường phát sinh nhiều trong mùa mưa, lũ. Lý do là trong mùa mưa, nhiệt độ môi trường thường xuống thấp – nhất là vào những lúc thời tiết âm u, mưa lũ kéo dài và hàm lượng chất hữu cơ thường tập trung cao trong nước do sự rửa trôi của vật chất hữu cơ xuống các ao, hầm, sông, kênh, rạch.

Phòng trị bệnh cho cá trong mùa mưa lũ

Đây là yếu tố tạo điều kiện cho các ký sinh trùng như: trùng bánh xe, trùng mỏ neo, trùng quả dưa, sán lá… phát sinh và phát triển trong môi trường nước. Do vậy, để phòng trị bệnh cho cá trong mùa mưa lũ, bà con nuôi cá cần thực hiện các biện pháp sau: tag: kỹ thuật nuôi tôm sú

– Thường xuyên theo dõi tôm/cá. Khi cá/tôm nổi đầu, cần xác định ngay nguyên nhân. Nếu do thiếu oxy, cần tăng cường quạt nước, phun nước, giảm lượng thức ăn. Chú ý không nuôi thâm canh với mật độ dày, vượt khả năng của ao. Với ao cũ, mỗi lần thay nước cần tiến hành xử lý nước bằng vôi bột

–  Thường xuyên theo dõi mức nước, màu nước:

Thường xuyên kiểm tra mức nước, màu nước trong ao để kịp thời điều chỉnh. Bảo đảm môi trường ao nuôi cho cá/ tôm trong sạch bằng các biện pháp hóa dược như sử dụng bột đá, vôi bột, vôi nước bón định kỳ cho ao nuôi, liều lượng tùy theo đối tượng nuôi.

Ví dụ: Nuôi cá rô phi định kỳ 7 – 10 ngày bón 1 lần vôi bột với hàm lượng 1 – 2 kg/100m3  nước. Có thể sử dụng hóa chất khác như zeolite bón vào 3 tháng cuối chu kỳ nuôi để chúng hấp thu các độc tố (NH3, H2S) và kim loại nặng, hoặc sử dụng các chất có chứa Tricloisoixianuricaxit định kỳ 7 – 10 ngày/lần phun xuống ao để khử trùng và diệt bớt tảo phát triển trong nuôi ao thâm canh, liều dùng 0,3 – 0,5g/m3 nước.

–  Tăng cường sức đề kháng cho động vật thủy sản:

Bổ sung vitamin C trộn vào thức ăn cho cá ăn hằng ngày. Liều lượng sử dụng tùy theo đối tượng nuôi, ví dụ như rô phi là 50 – 60 mg/kg cá/ngày. Hoặc sử dụng chế phẩm sinh học probiotic và enzyme tổng hợp để tăng cường tiêu hóa và bảo vệ dường ruột. Liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Sử dụng dầu mực nhằm bao bọc thức ăn và thuốc, tránh tan rữa nhanh trong môi trường nước, tạo mùi hấp dẫn cho cá, tôm bắt mồi nhiều, liều dùng 10g/kg thức ăn.

Để phòng trị các dạng bệnh ngoại ký sinh trùng trên cá, người nuôi thường sử dụng các loại hóa chất như: formol, thuốc tím, phèn xanh (còn gọi là sulphat đồng), vôi, muối… Tuy nhiên, hiện nay, trước xu hướng hạn chế sự ô nhiễm môi trường nước do các hóa chất độc hại cùng với phương châm “phòng bệnh hơn trị bệnh”, rất mong bà con nông dân thực sự quan tâm đến công tác phòng bệnh và chỉ sử dụng các loại hóa chất không làm ô nhiễm môi trường nước (vì hóa chất formal, thuốc tím, phèn xanh độc hại làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, cần hạn chế sử dụng). Đặc biệt hạn chế sử dụng những hóa chất này nuôi cá bè và cá đăng quần vì có thể gây sốc cho cá nuôi.

Chúng tôi xin đề xuất hai loại hóa chất dùng để phòng bệnh cho cá nuôi (thường gặp nhất là các bệnh ngoại ký sinh trùng) trong mùa mưa lũ, đó là muối (NaCl) và vôi (CaO). Cách sử dụng như sau:

* Vôi và muối cho vào túi vải treo ở 4 góc nơi cho cá ăn và nên bắt đầu treo khi cho cá ăn (mỗi loại một túi cho mỗi góc).

–  Nuôi bè và đăng quần sử dụng hàm lượng như sau: vôi: 2 – 5 kg/túi, muối 10 – 20 kg/túi.

–  Nuôi ao hầm sử dụng vôi: 1 – 2 kg/túi, muối 10 kg/túi.

* Liều lượng trên có thể thay đổi trong phạm vi cho phép tùy theo quy mô, diện tích nuôi và thể tích nước. Định kỳ 10 – 15 ngày thực hiện một lần. Nếu phát hiện đàn cá nuôi có biểu hiện giảm ăn, nhào lộn dữ dội, trên da và mang có nhiều nhớt, cá bệnh chết với số lượng ít và tăng không đáng kể thì thực hiện việc treo vôi và muối trong 3 ngày liên tục (trong mô hình nuôi ao hầm thì mỗi ngày thay 10 – 15% thể tích nước ao). Đồng thời đem mẫu cá bệnh nhờ cán bộ thủy sản hỗ trợ trong việc chuẩn đoán bệnh cá.

Bên cạnh đó, có thể sử dụng thêm lá xoan, dây giác, cỏ mực đập giập bọc lại bằng lưới cước treo ở đầu bè hoặc ở chỗ cho ăn với liều lượng mỗi lần treo từ 5 – 10kg để nâng cao hiệu quả phòng ngừa các bệnh ngoại ký sinh trùng trong mùa mưa, lũ. tag: ky thuat nuoi tom su

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-tri-benh-cho-ca-trong-mua-mua-lu-59f68f8be4951932488b456c.html

Sử dụng Vitamin C trong nuôi trồng thủy sản

Vitamin và khoáng chất đóng vai trò quan trong thành phần dinh dưỡng của các loài động vật thủy sản, nhất là trong mô hình nuôi thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp. Việc bổ sung các khoáng vi lượng hay nguyên tố vi lượng cho tôm cá không những giúp cho loài thủy sản nuôi khỏe mạnh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng miễn dịch của loài nuôi.

Sử dụng Vitamin C trong nuôi trồng thủy sản

1. Vai trò của Vitamin C

– Vitamin C rất cần thiết cho quá trình tổng hợp collagen và cartilage ở động vật có xương sống. Bên cạnh đó, Vitamin C được xem như là chất kháng ôxy hóa, kích thích hệ miễn dịch, hỗ trợ hấp thu sắt, giúp ngăn ngừa hiện tượng thiếu máu thường gặp và giảm stress.

– Cá và giáp xác không có khả năng tổng hợp Vitamin C do thiếu enzym L-gulono-lactone oxidase, mà thường hấp thu từ thức ăn.

– Thức ăn thiếu vitamin C là nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng bệnh lý như bệnh vẹo cột sống ở cá và bệnh chết đen ở tôm. Với tôm giai đoạn ấu trùng cần Vitamin C nhiều hơn so với giai đoạn trưởng thành. tag: ky thuat nuoi tom su

 2. Biểu hiện tôm, cá thiếu Vitamin C

– Khi cá thiếu Vitamin C sẽ dẫn đến việc giảm ăn, yếu ớt và hoạt động kém, nặng hơn là bị biến dạng cấu trúc, dị tật xương sống, ưỡn lưng… hay xuất hiện hiện tượng xuất huyết gốc vây và da, mất sắc tố ở da, tổn thương da và hàm lượng khoáng giảm ở cá rô phi.

– Ở tôm, thức ăn thiếu Vitamin C là nguyên nhân dẫn đến bệnh chết đen do màu sắc cơ thể chuyển sang màu đen tối và làm giảm tỷ lệ sống của ấu trùng tôm, tăng thời gian biến thái.

* Dấu hiệu bệnh lý và phân bố của hội chứng chết đen ở tôm sú khi thiếu Vitamin C

– Đầu tiên xuất hiện đốm đen ở phần cơ dưới lớp vỏ kitin của phần bụng, đầu ngực và các khớp nối giữa các đốt.

– Bệnh nặng vùng đen xuất hiện lan trên mang tôm và thành ruột. Tôm bỏ ăn, chậm lớn.

– Đàn tôm mắc bệnh có thẻ bị chết 1- 5% hàng ngày. Tổng tỷ lệ hao hụt rất lớn có thể lên đến 80- 90%.

– Hiện tượng bệnh lý giống bệnh ăn mòn nhưng chỉ khác ở phần vỏ kitin không bị mòn.

3. Nhu cầu và chế độ sử dụng

– Hầu hết các loài cá, tôm đều có các yêu cầu về chế độ sử dụng Vitamin C theo định lượng sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố gồm: thói quen, kích thước và tốc độ tăng trưởng của tôm, cá nuôi; hình thức nuôi; quá trình sản xuất khẩu phần thức ăn; các đặc tính của môi trường nước và tình trạng sinh lý của cá, tôm; giai đoạn phát triển.

–  Nhu cầu Vitamin C thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển. Ở giai đoạn ấu trùng tôm, cá cần được cung cấp lượng Vitamin C nhiều hơn giai đoạn trưởng thành và giai đoạn bố mẹ (Ở giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh cần bổ sung 200 mg Vitamin C/kg thức ăn, giai đoạn tôm giống cần bổ sung 100 mg/kg thức ăn).

– Đối với cá nuôi, nhu cầu Vitamin C tùy theo loài (cá chép bột có nhu cầu Vitamin C là 45 mg/kg, trong khi cá chẽm bột chỉ 20 mg/kg).

– Tôm, cá bị bệnh thì nhu cầu bổ sung Vitamin C cũng sẽ cao hơn so với tôm, cá khỏe mạnh.

– Để hạn chế sự hao hụt Vitamin C, người ta phải bảo vệ vật nuôi trước khi bổ sung vào thức ăn ở các dạng khác nhau. Người nuôi có thể bổ sung Vitamin C vào thức ăn loại vi bọc do hàm lượng Vitamin C ở dạng này khoảng 80 – 90% và có thể lưu trữ trong vài tháng.

4. Thời điểm và liều lượng bổ sung

– Trong nuôi thủy sản, khi thời tiết thay đổi hoặc xung quanh vùng nuôi có dịch bệnh cũng nên bổ sung thường xuyên Vitamin C vào thức ăn cho vật nuôi.

– Liều lượng sử dụng tùy thuộc vào loại Vitamin C, khoảng 500 – 1.000 mg/kg thức ăn. Đồng thời, nên định kỳ bổ sung khoảng 3 – 5 ngày/tháng; khi cá bị bệnh cần tăng thêm liều lượng và bổ sung 5 – 7 ngày liên tục.

Lưu ý: Nên bổ sung Vitamin C với thuốc bổ, men tiêu hóa nhằm tăng sức đề kháng cho cá, tôm trước khi cho chúng dùng kháng sinh để điều trị bệnh. Ngoài ra, không nên sử dụng Vitamin C cùng với các loại kháng sinh điều trị bệnh như ampicilin, amoxycilin… vì các loại kháng sinh này không bền khi ở cùng Vitamin C. tag: tom su

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-vitamin-c-trong-nuoi-trong-thuy-san-59f694e0e49519e44b8b456c.html

Quy Trình Nuôi Tôm Sú Thâm Canh, Bán Thâm Canh

Dựa trên nền tảng quy trình nuôi tôm thâm canh (công nghiệp) – bán thâm canh (bán công nghiệp) mà các ban, ngành chuyên môn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo.

Quy Trình Nuôi Tôm Sú Thâm Canh, Bán Thâm Canh

Trên cơ sở trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất của các hộ nuôi thành công trong tình hình bệnh dịch của nhiều năm trước và trong năm 2011. tag: nuôi hải sản

Để giúp người nuôi hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro do dịch bệnh Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bạc Liêu khuyến cáo quy trình nuôi tôm thâm canh (công nghiệp) – bán thâm canh (bán công nghiệp) đang áp dụng thành công cho đối tượng tôm sú, tôm thẻ chân trắng như sau:

I. CẢI TẠI AO:

1.1 Xử lý đáy ao: Sau mỗi vụ nuôi, cải tạo lại ao đầm nhằm loại bỏ các chất thải tồn lưu ra khu vực ao chứa chất thải, gia cố mái bờ xử lý triệt để rò rỉ. Đối với những ao nuôi trước đây có sử dụng các loại hoá chất, thuốc trừ sâu, hoặc nuôi nhiều vụ liên tục, nên cày xới đáy ao, phơi khô, sau đó lọc nước ngâm đáy ao khoảng 3 – 5 ngày hút nước ra ngoài và phơi đáy cho đến khô nứt nẻ. Kiểm tra pH đáy ao, nếu pH> 6 bón vôi CaO hay CaCO3 từ 70 – 100 kg/ 1000 m2, nếu pH

Chú ý: Không nên san ủi đáy ao quá sâu (> 1,8 m) dễ dẫn đến ao nuôi có độ pH thấp do gặp tầng sinh phèn, tôm nuôi chậm lớn do khó lột xác.

1.2 Lọc nước: Cấp nước vào ao lắng rồi chuyển qua đầy ao nuôi bằng máy bơm hoặc cống. Cần có túi lọc bằng vải kate để hạn chế tối đa tôm, cá tạp xâm nhập vào ao.

– Tránh lấy nước trong các trường hợp sau:

+ Nguồn nước nằm trong vùng có dịch bệnh.

+ Nước có hiện tượng phát sáng vào ban đêm.

+ Nước có nhiều váng bọt, màng nhầy, nhiều phù sa đen lơ lửng.

+ Không lấy nước khi thủy triều đang lên. (Nên lấy nước bắt đầu bình để hạn chế các chất phù sa lơ lững vào ao).

– Nên lấy nước vào ao nuôi qua hệ thống ao lắng, ao chứa vì:

+ Nước ở đây đã được lắng lọc phù sa và các loại rong tảo tạp, cá tạp.

+ Nguồn nước lưu giữ trong ao lắng, ao chứa được lấy vào trước đó 10 – 15 ngày, các mầm bệnh tiềm ẩn trong môi trường sẽ giảm do không tìm được ký chủ trung gian.

1.3 Xử lý nước: Sau khi lấy đủ mực nước trong ao, để ổn định 2 – 3 ngày. Những hộ diện tích ít không có hệ thống ao lắng, ao chứa cần để ổn định nước trong ao 10 – 20 ngày) tiến hành diệt giáp xác bằng sản phẩm chuyên dùng trong nuôi thủy sản (không chứa các chất cấm sử dụng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Sau 1 – 3 ngày, chạy hệ thống cung cấp oxy, trung bình ngày 4 – 6 giờ để kích thích cho trứng, ấu trùng cá tạp có trong nước nở hết và tiến hành diệt tạp, sử dụng Saponin 15 – 20 kg/1.000 m3 nước. Sau 3 – 5 ngày tiến hành diệt khuẩn, sản phẩm được sử dụng nhiều là Iodine, Virkon..(sử dụng lúc 8 giờ hoặc 16 giờ).

1.4 Gây màu nước: Thực hiện gây màu nước sau khi đã diệt khuẩn từ 3 – 7 ngày. Đây là khâu quan trọng nhằm tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi. Gây màu tốt giúp ổn định môi trường nước, hạn chế được tôm bị sốc giúp tăng tỉ lệ sống: sử dụng vôi Dolomite hoặc CaCO3: 15 – 20 kg/1.000 m3 kết hợp sử dụng phân gây màu, hoặc sử dụng phân vô cơ NPK, DAP (2 – 3 kg/1.000 m3) hoặc sử dụng theo phương pháp truyền thống: sử dụng cám gạo, bột đậu nành nấu chín, ủ chua (2 – 3 kg/1.000 m3) sử dụng liên tục 3 – 5 ngày. Kiểm tra độ trong khi đạt 30 – 40 cm thì tiến hành cấy vi sinh.

Mục đích cấy vi sinh là để phân hủy các cặn hữu cơ lơ lững, các xác tảo chết tích tụ do dùng hóa chất diệt khuẩn trước đó, đồng thời tạo nguồn vi khuẩn có lợi giúp môi trường ao nuôi ổn định, tạo điều kiện cho tôm nuôi phát triển tốt ngay từ đầu. Tiến hành kiểm tra lại các yếu tố môi trường nếu nằm trong ngưỡng thích hợp: pH: 7,5 – 8,5 dao động trong ngày không quá 0,5: độ kiềm ≥ 70, độ mặn < 30 ‰, các chỉ tiêu H2S, NH3…= 0 thì tiến hành thả giống.

2. PHƯƠNG PHÁP CHỌN GIỐNG VÀ THẢ GIỐNG:

2.1 Chọn giống

Tôm giống tốt sẽ cho tỷ lệ sống cao, tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt. Cần áp dụng các bước sau:

a. Chọn bằng cảm quan qua các đặc điểm như:

Kích cỡ, màu sáng, sắc tố thể hiện rõ, đôi râu khép lại, các đốt bụng thon, dài, cơ bụng căng đầy, thịt đầy vỏ, đầu và thân cân đối. Tôm bơi ngược dòng nước, bám vào thành bể tốt. Phản xạ tốt khi gõ vào dụng cụ chứa. Phụ bộ tôm hoàn chỉnh, không có ký sinh trùng bám. Đường ruột đầy thức ăn. Không bệnh phát sáng.

b. Sốc formol: trước khi xét nghiệm nên sốc formol 70 – 100 ppm, thời gian 30 phút, hoặc sốc độ mặn bằng cách giảm đột ngột độ mặn xuống 50%, nếu tỉ lệ chết < 10% là đạt yêu cầu.

c. Chọn qua xét nghiệm để phát hiện, loại bỏ mẫu tôm yếu, nhiễm virus đốm trắng, đầu vàng, virus MBV…

2.2 Thả giống

Kích thước tôm giống thả: đối với tôm sú tốt nhất là thả giống khi đạt kích cỡ Post 12 – 15. Đối với tôm thẻ chân trắng tốt nhất là Post 10 – 12.

Mật độ thả: Tùy vào điều kiện kinh tế, mức đầu tư và kỹ thuật của từng hộ, đối với tôm sú nên thả từ 10 – 20 con/m2; tôm thẻ chân trắng từ 50 – 100 con/m2.

Thả giống đúng kỹ thuật cũng góp phần tăng tỷ lệ sống của đàn tôm. Trước khi thả giống nên ngâm các bọc chứa tôm giống trong nước ao khoảng 15 phút để cân bằng nhiệt độ giữa nước trong bọc chứa tôm giống và nước ao nuôi. Thả tôm vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát là tốt nhất.

3. CHĂM SÓC VÀ QUẢN LÝ:

3.1 Chăm sóc: Hiệu quả kinh tế phụ thuộc rât nhiều vào thức ăn, cách cho ăn, sử dụng thuốc thú y thủy sản phòng ngừa bệnh, các chất khoáng vi lượng… Cần cho tôm ăn bằng thức ăn công nghiệp (CN) ngay sau khi thả giống, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, số lượng, cỡ mồi phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

– Tháng nuôi thứ 1: Ngày đầu tiên cho ăn 1,2 – 1,5 kg/100.000 con giống, cứ 2 ngày tăng 200 gam/100.000 con giống, 15 ngày sau khi thả giống đến khi thu hoạch sử dụng các sản phẩm thuốc thú y thủy sản có chức năng phòng ngừa các bệnh đường tiêu hóa, bệnh gan và cung cấp các Vitamin, các khoáng cần thiết giúp tôm tăng cường sức đề kháng (mỗi loại 5 – 10 gam/kg thức ăn). Các sản phẩm này sau khi phối trộn được bao bọc bằng 1 trong các loại chất kết dính: dầu mực, dầu cá hoặc các sản phẩm thương mại có tính năng kết dính khác, lượng dùng 15 – 20 gam/kg thức ăn.

– Tháng nuôi thứ 2 đến thu hoạch: Điều chỉnh thức ăn trong ngày thông qua sàn ăn, chú ý những ngày mưa hoặc nắng gắt chỉ sử dụng 70 – 80% lượng thức ăn đã định, tránh hiện tượng thức ăn dư thừa làm ô nhiễm môi trường ao nuôi, tôm dễ phát sinh bệnh. Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, đảm bảo chu kỳ nuôi hệ số thức ăn dao động 1,3 – 1,6.

3.2 Quản lý: Khi nuôi tôm ở mật độ dày, nhất là trong nuôi tôm thẻ chân trắng thì tất cả hệ thống sinh thái của môi trường nước đều thay đổi hoàn toàn so với những điều kiện tôm sống ngoài tự nhiên. Rất nhiều diễn biến phức tạp và sự cố xảy ra hàng giờ, hàng ngày. Dùng vi sinh đúng liều lượng sẽ giúp cân bằng hệ sinh thái, kích thích vi sinh vật có lợi lấn át vi sinh vật có hại gây bệnh cho tôm, tiết kiệm chi phí và ao nuôi luôn ổn định, an toàn trong suốt quá trình nuôi.

– Trong tháng nuôi 1: Chú ý gây và giữ màu nước ao nuôi, tránh trường hợp nước ao trong kéo dài sinh tảo đáy (laplap) hoặc tảo phát triển quá mức gây hiện tượng thiếu oxy về sáng, có thể gây ra hiện tượng tôm đóng rong. Định kỳ 10 – 15 ngày sử dụng vi sinh 1 lần.

– Tháng nuôi thứ 2 đến khi thu hoạch: Tôm lớn nhu cầu oxy cao nên nhất thiết không để tảo phát triển nhiều trong ao. Trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 90% các ao nuôi tôm Thâm canh – Bán thâm canh đều có độ kiềm thấp < 80 ppm, đây là yếu tố quan trọng tác động đến chu kỳ lột xác và sự phát triển của tôm nuôi. Vì vậy, định kỳ hoặc khi thấy tảo trong ao phát triển mạnh hoặc màu nước thay đổi, độ kiềm thấp… dùng vôi CaCO3 10 – 20 kg/1.000 m3 hoặc sử dụng khoáng tạt lúc 20 – 21 giờ tối, trưa hôm sau cấy vi sinh (sản phẩm chất lượng, có uy tín, thương hiệu) nhằm phân hủy các chất thải, xác tảo, mùn hữu cơ đáy ao, tạo nên môi trường trong sạch, pH, độ kiềm ổn định giúp tôm phát triển tốt.

– Hệ thống cung cấp oxy trong ao nuôi Thâm canh – Bán thâm canh là không thể thiếu, nhất là đối với nuôi tôm thẻ chân trắng. Tùy diện tích ao, mật độ nuôi mà bố trí hệ thống này cho hợp lý. Trong quá trình nuôi đặc biệt chú ý vào thời điểm từ 19 – 21 giờ oxy trong nước ao giảm dần. Đặc biệt từ 01 – 05 giờ sáng là thời điểm oxy thấp nhất, nhất là vào những ngày thời tiết thay đổi nắng – mưa,…nên rất cần phải vận hành hệ thống này.

– Trang thiết bị dụng cụ cần sử dụng riêng biệt, vệ sinh cá nhân, dụng cụ trước và sau khi sử dụng.

3.3 Những sự cố thường gặp

Khi trong ao nuôi tôm có biểu hiện: Mòn đuôi, đen mang, đứt các phụ bộ, sắc tố xấu, phát sáng hoặc màu nước có biểu hiện khác thường…là các bệnh do vi khuẩn, môi trường gây ra, Cần sử dụng vôi CaCO3 lượng dùng 20 – 30 kg/1.000 m3, hoặc khoáng tạt 1 kg/1.000 m3 sử dụng buổi tối trưa hôm sau cấy vi sinh (loại chất lượng và có uy tín trên thị trường) liều dùng gấp 2 – 3 lần so với dùng định kỳ, sử dụng liên tục trong 2 – 3 ngày. Trong ao xuất hiện tảo lam, tảo đỏ, sinh tảo đáy (laplap) bà con dùng các loại sản phẩm có chức năng diệt tảo (khi sử dụng bà con phải vận hành hệ thống cung cấp oxy phòng khi tránh hiện tượng tôm nổi đầu), sau 2 – 3 ngày cấy vi sinh. tag: nuôi tôm

Trong trường hợp tôm nuôi bị nhiễm các bệnh do virus, đối với tôm lớn cần thu hoạch ngay, tôm nhỏ cần xử lý (diệt bỏ) tại ao, có biện pháp cách ly đối với các ao còn lại như là dùng lưới rào ngăn cua còng từ ao nhiễm bệnh bò sang, sát trùng bờ ao bằng vôi CaO hoặc CaCO3 20 – 30 kg/100 m2 bờ…sau khi diệt bỏ tối thiểu 7 ngày mới xả ra ngoài môi trường.

Chú ý: Tất cả các loại vi sinh đều sử dụng vào thời điểm có nắng hoặc nếu thời tiết lạnh, mưa, cần sục khí để nhân sinh khối tăng tính hiệu quả.. Không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào để cắt tảo hay kích thích tôm lột hoặc sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi khi tôm đang phát triển bình thường để tránh có những sự cố đáng tiếc xảy ra như là tôm nổi đầu do sử dụng hóa chất làm ao mất tảo hay tôm “óp” do kích lột nhiều lần khi chưa tới chu kỳ lột, tôm chậm lớn do lạm dụng kháng sinh…

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quy-trinh-nuoi-tom-su-tham-canh-ban-tham-canh-3493.html

Cắt Cuống Mắt Để Kích Thích Tôm Đẻ

Cuống mắt tôm giống như một cái máy phát ra tín hiệu hóa học ngăn cản sự sinh sản. Vì vậy, cắt cuống mắt sẽ kích thích tôm đẻ nhiều.

Cắt Cuống Mắt Để Kích Thích Tôm Đẻ

Trong tự nhiên, tôm cái trưởng thành giao vĩ ngay sau khi lột xác. Chúng chứa tinh của tôm đực trong nang lưu tinh cho đến khi đẻ trứng. Sau đó, buồng trứng mới phát triển và tôm đẻ.

Vì sao phải cắt cuống mắt thì tôm mới đẻ?

Khi tôm chuyển từ tình trạng bình thường sang tình trạng sinh sản thì có sự thay đổi cơ bản về tương quan giữa hormon kích thích sinh sản và hormon ức chế các quá trình này. Trong đó hormon ức chế sự sinh sản được sản xuất tích tụ và phóng thích từ cuống mắt của tôm.

Như vậy cuống mắt tôm giống như một cái máy phát ra tín hiệu hoá học ngăn cản sự sinh sản. Vì vậy, cắt cuống mắt tôm cũng giống như tháo gỡ cái máy phát ra tín hiệu này. Nhờ thế mà sự phát triển của buồng trứng và đẻ trứng được giải tỏa. Buồng trứng phát triển liên tục và tôm đẻ.

Nghĩa là sau khi cắt cuống mắt, tôm đẻ cấp tập vài lần, (có khi tới năm lần). Tuy nhiên chất lượng mỗi lần sinh sản sau cũng giảm so với lần trước đó. Cho đến khi trên thực tế sự sinh sản của tôm không mang lại hiệu quả sinh học và hiệu quả kinh tế thì phải loại bỏ chúng. Đến nay có khoảng 20 loài tôm khác nhau được áp dụng thủ thuật cắt cuống mắt để kích thích sinh sản.

Phương pháp cắt cuống mắt

Để cắt cuống mắt cho tôm, người ta thường đốt, kẹp hoặc thắt cuống mắt của tôm mà không cắt rời ngay để tránh sự chảy máu (dịch cơ thể).

Ở Việt Nam, các nhà sản xuất tôm giống dùng dây cao su nhỏ (dây thun) thắt cuống mắt. Mắt bị thắt cuống có thể rụng sau đó nhưng dịch cơ thể không bị thất thoát.

Ngay sau khi cắt cuống mắt, cần theo dõi chặt chẽ sự phát triển của buồng trứng. Khi thấy buồng trứng đang ở giai đoạn IV thành thục, lập tức tôm được tách riêng vào bể đẻ.

Hạn chế

Tôm bị cắt cuống mắt chỉ đẻ ba đến năm lần và đời sống sinh sản cũng chấm dứt. Trong khi tôm ở ngoài tự nhiên không bị cắt cuống mắt và có thể đẻ nhiều lần hơn trong một khoảng thời gian dài, cho ra nhiều tôm con hơn. Vì vậy người ta đã nghiên cứu làm sao để có thể kích thích tôm đẻ mà không cần cắt cuống mắt.

Việc ứng dụng tiêm serotonin cho tôm cái đã được thực hiện và tỷ lệ tôm đẻ lần đầu là 35,4%, gấp sáu lần đối chứng. Tỷ lệ tôm đẻ tiếp trong lần hai là 6,7%. Tính chung, số tôm đẻ do được kích thích bằng serotonin gấp bảy lần so với đối chứng. Tỷ lệ tôm đẻ nhờ tiêm serotonin thấp hơn tôm được cắt cuống mắt.

Nhưng sau những lần đẻ dồn dập số tôm cắt cuống mắt không thể tiếp tục được dùng để sản xuất tôm giống. Trong khi những chú tôm đã đẻ nhờ serotonin vẫn tiếp tục sinh sản vì không bị lổn thương, nhờ thế mà người ta có thể kéo dài được tuổi thọ sinh sản của tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cat-cuong-mat-de-kich-thich-tom-de-8620.html