Monthly Archives: February 2018

Kỹ thuật nuôi ghép cá đối mục trong vùng hạ triều ô nhiễm

Giống tôm, cua là hai đối tượng đã được sinh sản nhân tạo thành công còn nguồn giống cá kình và cá dìa vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào con giống tự nhiên nên nguồn giống không chủ động, có những năm nguồn giống không đủ phục vụ nhu cầu người nuôi. tag: máy o2-turbine

Kỹ thuật nuôi ghép cá đối mục trong vùng hạ triều ô nhiễm

Cá Đối mục là loài cá ăn tạp thành phần chủ yếu là mùn bã hữu cơ, các loại rong ngoài ra cá đối mục ăn được thức ăn công nghiệp.

Đặt biệt khi nuôi xen ghép không ăn tôm cua nuôi, có nguồn giống sinh sản nhân tạo.

Vì vậy rất phù hợp để đưa vào nuôi xen ghép cùng với tôm sú và cua. Để giúp bà con nông ngư dân phát triển mô hình nuôi xen ghép tôm sú, cua cá đối mục. Sau đây, xin giới thiệu kỹ thuật nuôi xen ghép các đối tượng này trong ao.

1. Đặc điểm sinh học đối tượng nuôi

 Tôm sú

– Tôm sú thuộc loại rộng nhiệt, có thể sống ở khoảng nhiệt độ từ 12 – 370C, nhiệt độ thích hợp nhất để tôm sú sinh trưởng, phát triển là 25 – 300C.

– Độ mặn thích hợp từ 15 – 38 0/00 khi tôm đã lớn.

– Hàm lượng ôxy từ 3 – 15 mg/l, tốt nhất từ 5 – 10 mg/l.

– pH từ 5 -9, thích hợp nhất từ 7,5 – 8,5.

– Trong tự nhiên tôm sú là loài ăn tạp, ưa ăn giáp xác, thực vật dưới nước, mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, động vật hai mảnh vỏ, bắt mồi nhiều khi thủy triều rút.

– Trong ao nuôi hoạt động bắt mồi diễn ra nhiều vào lúc sáng sớm hay chiều tối.

– Tôm sú là loài lớn nhanh, có thể đạt kích thước thương phẩm (30 – 50 con/kg) sau 3 – 4 tháng nuôi với con giống P10-15.

Cua

– Cua biển là loài phân bố rộng, tuy nhiên, nhiệt độ thích hợp nhất từ 25-300C. Cua chịu đựng pH từ 7.5-9.2 và thích hợp nhất là 8.2-8.8. Cua thích sống nơi nước chảy nhẹ, dòng chảy thích hợp nhất trong khoảng 0.06 – 1.6m/s.

– Giai đoạn cua con, tiền trưởng thành và trưởng thành: ăn cua nhỏ, cá, xác động vật chết, nhuyễn thể… Cua có tập tính trú ẩn vào ban ngày và kiế m ăn vào ban đêm.

Cá đối

– Cá đối là loài rộng muối và rộng nhiệt phân bố rộng rãi các thủy vực nước ven biển vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới. Cá có thể chịu được nhiệt độ từ 3 – 350C, nhiệt độ thích hợp từ 15 – 250C. Cá có thể sống ở độ mặn 0 – 400/00, thích hợp nhất từ 15 – 300/00.

– Cá Đối mục là loài cá ăn tạp  thành phần chủ yếu là mùn bã hữu cơ, các loại rong và giáp xác nhỏ ngoài ra cá đối mục ăn được thức ăn công nghiệp. Vì vậy ,đây là đối tượng nuôi phù hợp với những ao nuôi vùng hạ triều ô nhiễm.

2.  Kỹ thuật nuôi xen ghép

Lựa chọn ao nuôi

-Nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm, xa khu dân cư, nước thải công nghiệp. Đảm bảo các yếu tố môi trường ổn định. Giao thông đi lại thuận lợi, gần nguồn cá giống.

– Các yếu tố môi trường phù hợp để nuôi xen ghép tôm sú, cua và cá đối mục như sau:

Sttt Các yếu tố môi trường Khoảng thích hợp
1  Độ mặn 10 – 250/00
2  Nhiệt độ 22 – 300C
3  Hàm lượng oxy >4mg/l
4  pH 7,5 – 8,5

Diện tích ao nuôi  tốt nhất là từ 2.000 – 5.000m2.

Độ sâu mực nước là từ 1,2 – 1,5m, ao có cống cấp và cống thoát riêng biệt

Cải tạo ao nuôi

Tháo cạn nước, bắt hết cá tạp (hoặc dùng Saponin để diệt tạp, liều lượng 15ppm (15 g/m3), nạo vét ao bằng máy hay thủ công, bón vôi liều lượng 7 – 10kg/100m2 ao,  tiến hành phơi ao 3 -5 ngày.

– Cấp nước vào ao nuôi qua lưới lọc nhằm ngăn cá tạp, nòng nọc mức  với mức nước lên 1,0 – 1,2m.

– Gây màu nước bằng phân NPK(16-16-8), liều lượng 2ppm(2g/m3).

– Sau 3 ngày màu nước lên xanh lá chuối non tiến hành thả giống.

– Tiến hành rào lưới xung quanh ao nuôi để tránh thất thoát.

– Thả ít rong vào ao nuôi làm nơi trú ẩn cho cua

Lựa chọn và thả giống

*  Chọn con giống:

– Cá Đối mục: Nên chọn giống khỏe mạnh đều kích cỡ, không bị xây xát, hoạt động nhanh, nhìn  bên ngoài màu sắc tươi sáng, không bị dị hình, dị tật.

– Cua khay: Chọn cua đồng đều kích cỡ, màu sắc sáng bóng, cua hoạt động tốt không có dấu hiệu bệnh, cua đầy đủ que càng không bị tổn thương, mất mát các phần phụ.

– Tôm sú có màu nâu xám tự nhiên, hoạt động nhanh nhẹn, cở tôm đồng đều và đạt từ 1,2 – 1,3 cm(P15), các bộ phận phụ đầy đủ không bị dị tật dị hình.Chọn tôm giống đã qua kiểm dịch không nhiễm bệnh đốm trắng, tỉ lệ MBV thấp < 10%.

*  Mật độ nuôi xen ghép: 

– Cá đối: 0,2 – 0,3 con/m2, kích cỡ 3 – 5 cm/con

– Tôm sú: 3 – 5 con/m2, kích cỡ 3 – 5 cm/con, nếu thả tôm post 5 – 8 con/m2nên ương riêng trước khi thả vào ao nuôi xen ghép để đảm bảo tỉ lệ sống.

– Cua: 0,3 – 0,4 con/m2, cua khay cỡ c2, nếu sử dụng cua giống lớn từ tự nhiên mật độ giảm đi một nửa. Đối với cua khay trong ao nên bố trí giai hoặc có sẵn ao nhỏ để ương cua khoảng 2 tuần trước khi thả ra ao nuôi.

*  Phương pháp thả  giống:

– Nên thả giống vào lúc sáng sớm khoảng 6 đến 9 giờ sáng  hay chiều mát 16 đến 17 giờ, không nên thả giống khi trời mưa hoặc gió mùa đông bắc.

– Trước khi thả đới với tôm, cá đối mục nên ngâm các bao giống trong ao  10 – 15 phút để cân bằng nhiệt độ, sau đó mở túi  cho nước vào từ từ rồi thả giống ra ao nuôi, thả giống đầu hướng gió. Đối với cua khay nên thả đều khắp ao và thả vào những điểm nền đáy ao sạch cát nhiều.

– Thứ tự thả giống:

Nếu thả tôm sú qua ươm kích cở 3 -5cm/con: Nên thả cua khay trước khoảng 2 tuần tiến hành thả tôm và sau 1 tuần tiến hành thả cá.

Nếu thả tôm post (P15): Nên thả tôm sú trước sau 3 tuần tiến hành thả cua khay và sau 2 tuần tiến hành thả cá đối mục.

* Chăm sóc quản lý

Thức ăn và cách cho ăn:

–  Cá đối: Sử dụng thức ăn viên nổi công nghiệp dành cho cá (thức ăn có độ đạm 22 – 30%),

– Tôm sú: Sử dụng thức ăn công nghiệp dành cho tôm, hoặc thức ăn chế biến.

– Cua: Sử dụng thức ăn cá tạp, giai đoạn nhỏ có thể sử dụng thức ăn công nghiệp của tôm để cho cua ăn.

– Nuôi xen ghép, tuy theo giai đoạn phát triển của tôm cua và cá đối trong ao có thể kết hợp 2 hoặc 3 loại thức ăn trên để cho ăn.

– Giai đoạn đầu: Lượng thức ăn công nghiệp hàng ngày 5 – 10% trọng lượng tổng đàn nuôi.

– Sau tháng nuôi thứ 3 trở lên lượng thức ăn trong ngày 3 – 5% trọng lượng đàn trong ao. tag: máy quạt nước đài loan

Cách cho ăn:

Thức ăn được rải đều trong ao, ngày có thể cho ăn 2 lần sáng  7-8 giờ và chiều 5-6 giờ, có thể cho ăn bổ sung vào ban đêm đối với tôm.

Thức ăn của tôm được cho ăn vào buổi chiều tối nhiều hơn cho ăn vào buổi sáng, ngược lại thức ăn dành cho cá cho ăn vào buổi sáng nhiều hơn buổi chiều.

Trong một bửa ăn, cho cá đối mực ăn trước sau đó đến cho tôm cua ăn. Vì cá đối mục rất háu ăn, nếu ăn cùng 1 lần cá dành thức ăn của tôm.

Một số điểm cần chú ý khi cho ăn:

Thức ăn phải đảm bảo chất lượng và số lượng

Kiểm tra sức ăn của tôm bằng cách dùng vó lượng thức ăn cho vào vó 1-2% tổng thức ăn tôm/ 1 bửa ăn, sau thời gian cho ăn 1,5 – 2 tiếng nếu thấy lượng thức ăn đưa vào được tôm ăn hết nhanh bửa sau tăng thêm thức ăn hoặc thấy lượng thức ăn còn dư thừa bửa sau nên giảm lượng thức ăn.

Kiểm tra sức ăn của cá bằng quan sát trên mặt ao, sau khi rải thức ăn 1,5 – 2 tiếng nếu thấy lượng thức ăn đưa vào được cá ăn hết nhanh bửa sau tăng thêm thức ăn hoặc thấy lượng thức ăn còn dư thừa bửa sau nên giảm lượng thức ăn.

Cho ăn nhiều vào ngày thời tiết đẹp và vào ngày thời tiết xấu hoặc trước khi mưa nên điều chỉnh giảm lương thức ăn.

Để đảm bảo cho tôm, cua nuôi ăn đầy đủ thức ăn, cần cho cá đối mục ăn trước khi cho tôm cua ăn.

* Quản lý ao nuôi

Định kỳ 7 – 10 ngày thay nước hoặc cấp nước thêm cho ao, lượng nước thay 20 – 30%.

Thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, độ kiểm, DO và độ mặn để có biện pháp điều chỉnh phù hợp.

Duy trì mực nước ao nuôi đảm bảo độ sâu mức nước ≥ 1,2m để ổn định nhiệt độ nước cho ao nuôi. Vào những ngày thời tiết nắng nóng hoặc mưa rét nên nắng mức nước ao nuôi lên trên 1,2m để tránh sự biến động nhiệt độ nước.

Thường xuyên  kiểm tra bờ đê, ao, cống, lưới chắn không để tôm, cua, cá thoát ra ngoài.

Hàng ngày kiểm tra tình trạng hoạt động của cá, tôm và cua để có biện pháp xử lý kịp thời.

Thức ăn cho cá ăn phải đảm bảo chất lượng đảm bảo đủ chất dinh dưỡng đúng liều lượng, thức ăn không ẩm mốc.

Định kỳ 15 ngày kiểm tra trọng lượng tôm, cua và cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

3. Thu hoạch

Đối với hình thức nuôi xen ghép cá đối mục nên áp dụng hình thức thu tỉa bớt sản phẩm rồi mới tiến hành thu toàn bộ.

Sau thời điểm nuôi 3 – 4 tháng tiến hành thu tỉa đối với tôm cua đạt kích  cỡ thương phẩm. Có thể tiến hành thả thêm cua giống để nuôi tiếp đợt mới. Riêng cá Đối Mục sau 5 – 6 tháng tiến hành thu tỉa cá đạt trọng lượng (0,4 kg/con) tiến hành  thu tỉa dần.

Đối với những ao bị ảnh hưởng bởi lũ lụt cần phải thu hoạch toàn bộ trước khi mưa lũ về. Những ao ít bị ảnh hưởng lũ lụt có thể nuôi vượt lũ để thu cá lớn hơn nhưng cần phải rào chắn lưới kĩ tránh thất thoát cá vào mùa mưa lũ.

Nên thu vào lúc trời mát tránh gây ảnh hưởng đến lượng đến tôm, cá nuôi và lựa chọn thời điểm thu hoạch để giá bán cao, mang lại hiệu qua kinh tế cao. tag:  ống xốp nuôi tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-ghep-ca-doi-muc-trong-vung-ha-trieu-o-nhiem-36579.html

Kỹ thuật nuôi cá Điêu Hồng

nhiệt độ dao động từ 7 – 45 độ C, tốt nhất là từ 25 – 32 độ C. Ở nước ta cá sống nhiều và thích hợp với điều kiện nước ngọt vùng châu thổ sông Mê Kông. tag: máy o2-turbine

Kỹ thuật nuôi cá Điêu Hồng

Hiện nay giống cá này được gây giống nhân tạo ở hầu hết các cơ sở sản xuất cá giống trong vùng.

1. Điều kiện ao nuôi

– Ao hay ruộng nuôi phải gần sông rạch, có nguồn nước ngọt tốt, thuận lợi cho việc lấy nước và thoát nước.

– Ao nên có hình chữ nhật trên 1.000 m2, sâu trên 1,5 m.

– Bờ bao phải cao hơn đỉnh lũ hàng năm từ 0,5 m trở lên. Mặt bờ trồng được hoa màu, kết hợp trồng cây dây leo như bầu bí, mướp để che mát phía tây, mặt bờ trồng rau muống vừa chống xói mòn, đồng thời là nguồn thức ăn xanh cho cá.

– Cống cần đặt ở đáy ao để rút nước khi thu hoạch hoặc xử lý thuốc, cống điều tiết nước theo thủy triều, khẩu độ cống đảm bảo thay đổi nước theo triều đạt 10 – 15% lượng nước ao trở lên.

2. Kỹ thuật nuôi

– Chuẩn bị ao nuôi: Ao nuôi cần tuân thủ qui trình chuẩn bị ao nuôi. Chú ý ngăn chặn phèn vào ao ở thời kỳ đầu ao mới đào và ở những cơn mưa đầu mùa, đồng thời hạn chế tối đa cá tạp, cá dữ vào ao.

– Mật độ thả nuôi: Tuỳ vào chất lượng ao, nguồn nước cung cấp và khả năng cung cấp thức ăn để quyết định mật độ thả từ 3 – 5 con/m2, cỡ cá giống từ 3 – 7cm.

– Chọn cá giống: Cần chọn cá ăn mạnh, bơi lội khỏe, màu sắc hồng tươi, đồng cỡ. Loại bỏ cá dị hình, màu nhợt nhạt, gầy ốm, bơi lội lạc đàn, cỡ quá nhỏ hoặc qua lớn. Nếu có điều kiện cần tìm nguồn gốc cá bố và mẹ, kỹ thuật sinh sản và ương nuôi của cơ sở sản xuất cá giống để có thêm cơ sở xác định con giống. Tốt nhất là tìm mua cá giống ở các cơ sở cá giống có uy tín.

– Thả cá giống ra ao: Thời điểm thả cá giống tốt nhất là lúc trời mát. Cho túi chứa cá vào nước ao trong 20-30 phút, tạo điều kiện cho cá quen dần với nhiệt độ môi trường nước ao, kết hợp sát trùng cá giống bằng kháng sinh (Aureomycin hoặc Oxytetracylin) nồng độ 10 – 15 phần triệu trong 5 – 10 phút. Sau đó kéo mạnh hai góc đáy túi cho cá ra ao toàn bộ.

– Cho cá ăn: Thức ăn cho cá rô phi đỏ thiên về nguồn gốc thực vật như cám, bắp xay nhỏ, bã đậu, bèo tấm, rau muống và thức ăn viên dạng nổi có hàm lượng đạm cao từ 28 – 32%. Thức ăn cần được nấu chín, nhồi dẻo tạo dạng viên cho vào sàn ăn (sàn ăn có kích thước 1 X 1 m, đặt cách mặt nước 0,4 – 0,5 m, tùy theo ao nhỏ hay lớn mà bố trí 2 – 4 điểm cho ăn). Nếu có điều kiện làm chòi cho cá ăn thì tốt hơn.

– Riêng rau muống, bèo ngoài phần nấu chín trong hỗn hợp thức ăn còn có thể cho ăn tươi rất tốt. Rau muống, bèo cần chặt nhỏ bằng miệng cá nuôi. Cho cá ăn ngày 2 lần vào 8 – 9 giờ sáng và 5 – 6 giờ chiều. Ngoài thức ăn thực vật thì cần bổ sung thức ăn viên công nghiệp.

Khẩu phần ăn ở 3 tháng đầu là 5 – 8% trọng lượng cá nuôi, các tháng về sau giảm dần đến 2 – 3% trọng lượng cá. Chú ý kiểm tra thức ăn trên sàn để điều chỉnh lượng thức ăn lần sau cho thích hợp, tránh tình trạng thừa, thiếu thức ăn. Kết hợp làm vệ sinh sàn ăn và nơi ăn trong ngày.

3. Quản lý chăm sóc

– Kiểm tra nước: Đảm bảo độ sâu nước ao tối thiểu 1 m, nước có màu xanh nõn chuối, vàng nhẹ phù hợp với cá nuôi; nếu nước có màu tối, xám xịt có nhiều hữu cơ, khí độc sẽ gây hại cho cá nuôi; nước trong veo hoặc có váng phèn lớp mặt và tích tụ đáy ao cũng gây hại cho cá. tag: máy quạt nước đài loan

Vào các tháng có nhiệt độ cao, oi bức kéo dài dễ gây hiện tượng cá sốc nhiệt độ, đồng thời chất hữu cơ phân hủy nhanh, tiêu tốn nhiều dưỡng khí và thải ra ao hồ nhiều loại khí độc. Trong những điều kiện như vậy, ao nuôi cá phải bổ sung nước định kỳ 5 – 7 ngày/lần, mỗi lần 15 – 20% lượng nước ao hoặc tháo bỏ 1/3 nước ao và bơm nước mới vào.

– Trong quá trình nuôi cá, nếu thấy bờ ao có hiện tượng nhiều phèn, phải chặn phèn sớm trước những cơn mưa đầu mùa (có thể cuốc bờ bón vôi hoặc bón vôi trực tiếp lên mặt bờ từ 10 – 15 kg vôi/100 m2. Theo dõi diệt cá lóc, cá trê, lươn bằng các dụng cụ thích hợp như câu cắm, câu lươn, hay dùng lá xoan nhét vào hang hốc.

– Kiểm tra tu bổ cống bọng, lấp kín các nơi rò rỉ, hang hốc.

– Theo dõi tình trạng ăn mồi (mạnh hay yếu), bơi lội (theo đàn hay tách đàn), màu sắc cá (bình thường theo đặc trưng loài hay biến màu), những biểu hiện bất thường cho ta dấu hiệu cá suy yếu, cá chết vài con đến nhiều con trong ngày. Các trường hợp này cần nhờ cán bộ thủy sản xem xét và có hướng dẫn điều trị cụ thể.

4. Phòng và trị bệnh

a) Bệnh do ký sinh trùng

– Các bệnh do ngoại ký sinh trùng có tác động mạnh đến cá con trong quá trình ương. Thực tế cho thấy nhiều cơ sở ương giống có tỷ lệ hao hụt từ 50 – 70% chủ yếu là do cá con bị bệnh đốm trắng (trùng quả dưa tấn công), bệnh do trùng mặt trời và tà quản trùng, bệnh do sán lá đơn chủ, bệnh do giáp xác ký sinh (Argulus và Ergasilus).

– Cách phòng trị: Ao ương và nuôi cá phải có sục khí. Khi phát hiện cá bị bệnh cần bón: Formol nồng độ 25 – 30 ml/m3, trị thời gian dài và nồng độ từ 100 – 150 ml/m3 nếu trị trong 15 – 30 phút; CuSO4 (phèn xanh) nồng độ 2 – 5 g/m3 trị thời gian dài và từ 20 – 50 g/m3 trong thời gian 15 – 30 phút, cách này trị một lần; muối ăn để phòng trị bệnh cho cá, nồng độ 1% trị thời gian dài và 1 – 2% trong 10 – 15 phút.

b) Bệnh xuất huyết

– Bệnh do vi khuẩn Aemomas hydrophia hoặc Edwardsiella tarda gây ra. Cá có dấu hiệu toàn thân xuất huyết, hậu môn sưng lồi, bụng trương to, có dịch vàng hoặc hồng, đầu và mắt cá sưng và lồi ra. Bệnh thường xuất hiện với cá rô phi đỏ nuôi bè.

– Biện pháp đề phòng là tránh thả cá nuôi và hạn chế thay nước lúc giao mùa. Nên định kỳ bón và khử trùng nơi cho cá ăn. Cách trị là bón vôi và khử trùng nước, có thể trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn cá, tỷ lệ tuỳ theo tình trạng bệnh.

c) Cá trương bụng do thức ăn

Thường xảy ra ở các ao, bè do cá ăn thức ăn tự chế không được nấu chín, không đảm bảo chất lượng làm cá không tiêu hóa được thức ăn, bụng cá trương to, ruột chứa nhiều hơi. Cá bơi lờ đờ và chết rải rác.
Biện pháp khắc phục là kiểm tra chất lượng và thành phần thức ăn để điều chỉnh lại cho thích hợp. Nếu trường hợp nặng, thường xuyên có thể thay đổi thức ăn. Trong thức ăn nên bổ sung men tiêu hóa (các probiotie…).

d) Cá chết do mật độ nuôi thả dày

Hiện tượng này thường xảy ra ở các ao, bè nuôi thâm canh với mật độ quá dày. Cá chết không có dấu hiệu bệnh lý, chỉ nổi lờ đờ và chết hàng loạt. Tỷ lệ cá chết phụ thuộc vào mật độ và chất lượng nước. Mật độ thích hợp để nuôi cá thịt là 100 – 120 con/m3 nước có thể gây chết đột ngột lúc giao nước hoặc sau những cơn mưa lớn. Vì thế cần nuôi với mật độ vừa phải (50 – 70 con/m3 nước) và chất lượng nước phải sạch.

5. Thu hoạch

Thời gian nuôi từ 4 – 5 tháng là thu hoạch được, đến giai đoạn này cá đạt trọng lượng trung bình 0,5 – 0,6 kg/con, nếu có điều kiện nuôi tiếp đến tháng thứ 9 – 10 thì trọng lượng cá đạt khoảng 1 kg/con. tag: ống xốp nuôi tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-ca-dieu-hong-36580.html

Bệnh thường gặp trên cá điêu hồng và cách phòng trị

Bệnh xảy ra gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi (50-70%). Thông tin sau sẽ giúp người nuôi hiểu rõ hơn về hai bệnh này từ đó có cách phòng trị bệnh hiệu quả. tag: máy o2-turbine

Bệnh thường gặp trên cá điêu hồng và cách phòng trị

Cá điêu hồng bị bệnh nổ mắt

Người nuôi cá điêu hồng không ai không gặp qua bệnh nổ mắt và bệnh trắng mang, thối mang trên cá điêu hồng. Bệnh thường xảy ra vào mùa có nhiệt độ nước tăng cao, khi hàm lượng oxy hoà tan trong nước thấp, cá nuôi với mật thả cao, trọng lượng cá từ 100g trở lên

Bệnh xảy ra gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi (50-70%). Thông tin sau sẽ giúp người nuôi hiểu rõ hơn về hai bệnh này từ đó có cách phòng trị.

Tác nhân gây bệnh

Do vi khuẩn Steptococcus gây ra. Vi khuẩn này phát triển mạnh ở môi trường có nhiệt độ nước 20 – 30oC.

Dấu hiệu bệnh lý của cá bệnh

Cá có dấu hiệu hôn mê, mất phương hướng bơi lội.

Vùng mắt bị thương tổn như viêm mắt, lồi mắt, chảy máu mắt Xuất hiện các vết lở loét xuất huyết không lành ở quanh mắt, các gốc vây hoặc những vùng da hơi đỏ xung quanh hậu môn, sinh dục của cá Có dịch chất lỏng trong bụng cá chảy ra hậu môn (dấu hiệu của dịch bệnh ở thời kỳ cấp tính)

Cá bỏ ăn, kiểm tra không thấy thức ăn trong dạ dày hoặc ruột của cá bị bệnh, quan sát thấy túi mật to Gan, thận, lá lách, tim, ống ruột bị xuất huyết.

Lá lách và thận bị trương lên và sưng nhẹ Khi cá bị nhiễm bệnh nặng kiểm tra có sự dính nhau của các cơ quan nội tạng với màng trong khoang bụng của cá, quan sát thấy có các tơ huyết trong màng ở khoang bụng

Phương pháp phòng và trị bệnh

Thực hiện tốt công việc chuẩn bị ao, lồng bè nuôi, đặc biệt là khâu xử lý đáy ao và xử lý nước. Dùng Virkon® A để xử lý nước với liều 0,7 kg/1.000 m3 nước ao hoặc cho vào các túi vải, treo xung quanh lồng bè nuôi để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh Trước khi thả cá nuôi nên tắm qua nước muối 2 – 3% trong thời gian 5 – 15 phút.

Nên thả nuôi với mật độ vừa phải Trong quá trình nuôi cần theo dõi thường xuyên các yếu tố môi trường nước, nếu được duy trì hàm lượng oxy hoà tan ở mức cao bằng máy quạt nước.

Trộn cho ăn liên tục 5 g Aqua C® Fish + 3 g Grow Fish trong 1 kg thức ăn, định kỳ từ 7 – 10 ngày/tháng để tăng cường sức đề kháng cho cá khi nhiệt độ thay đổi Khi dịch bệnh xảy ra nên cắt giảm một phần hoặc toàn bộ lượng thức ăn cho cá. Giảm mật độ nuôi sẽ giảm bớt căng thẳng và mức độ lây lan bệnh đến cá.

Lập tức vớt bỏ số cá chết ra khỏi ao, lồng bè nuôi Điều trị ngay bằng kháng sinh Osamet® Fish (hoặc Fortoca®) liều 5 – 10 gram + Aqua C® Fish liều 5 gram trong 1 kg thức ăn (hoặc cho 2 – 3 tấn cá nuôi), cho ăn liên tục trong 7 – 10 ngày Điều trị bệnh giai đọan sớm hiệu quả điều trị sẽ rất cao. tag: máy quạt nước đài loan

BỆNH TRẮNG MANG, THỐI MANG

 

Cá điêu hồng bị bệnh thối mang

Tác nhân gây bệnh Do vi khuẩn Myxococcus piscicolas gây ra. Vi khuẩn này phát triển mạnh ở môi trường có pH = 6,5 – 7,5, nhiệt độ nước 25 – 35oC. Dấu hiệu bệnh lý của cá bệnh

Cá bệnh có dấu hiệu bơi tách đàn, bơi lờ đờ trên mặt nước, khả năng bắt mồi giảm đến ngừng ăn Các tơ mang cá bị thối nát, ăn mòn, rách nát, xuất huyết, thối rữa và có lớp bùn dính rất nhiều Bề mặt xương nắp mang bị xuất huyết, ăn mòn và có hình dạng không bình thường

Phương pháp phòng và trị bệnh

Cần thực hiện tốt khâu chuẩn bị ao nuôi, vét sạch bùn đáy ao

Trong quá trình nuôi phải quản lý tốt môi trường để hạn chế ô nhiễm hữu cơ thông qua việc quản lý lượng thức ăn

Định kỳ thay nước ao để giữ môi trường trong sạch. Thường xuyên vệ sinh thành lồng bè để đảm bảo lưu tốc dòng nước chảy cho phù hợp

Định kỳ xử lý nước bằng Virkon® A liều 0,7 kg/1.000 m3 nước ao hoặc cho vào các túi vải, treo xung quanh lồng bè để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh Trộn cho ăn liên tục 5 g Aqua C® Fish + 3 g Grow Fish trong 1 kg thức ăn, định kỳ từ 7 – 10 ngày/tháng để tăng cường sức đề kháng cho cá khi nhiệt độ thay đổi

Khi phát hiện bệnh sớm cần phải điều trị ngay bằng kháng sinh BayMet® liều 5 – 10 gram + Aqua C® Fish liều 5 gram trong 1 kg thức ăn (hoặc 1 kg BayMet®+ 1 kg Aqua C® Fish cho 3 – 5 tấn cá nuôi), cho ăn liên tục trong 7 – 10 ngày. Tắm BayMet® với liều 2 – 5g/m3 .

BỆNH DO KÝ SINH TRÙNG

các bệnh do ngoại ký sinh trùng có tác động mạnh đến cá con trong quá trình ương. Thực tế cho thấy, nhiều cơ sở ương giống có tỉ lệ hao hụt từ 50 – 70% chủ yếu là do cá con bị bệnh đốm trắng (trùng quả dưa tấn công), bệnh do trùng mặt trời và tà quản trùng, bệnh do sán lá đơn chủ, bệnh do giáp xác ký sinh (Argulus và Ergasilus).

Cách phòng trị: ao ương hoặc nuôi cá phải có sục khí. Khi phát hiện cá bị bệnh cần bón:  Formol nồng độ 25 – 30ml/m3 trị thời gian dài và nồng độ từ 100 – 150ml/m3 nếu trị trong 15-30 phút; CuSO4 (phèn xanh) nồng độ 2-5g/10m3 trị thời gian dài và từ 20 – 50g/10m3 trị trong 15 – 30 phút, cách ngày trị một lần; muối ăn dùng để phòng và trị bệnh cho cá, nồng độ 1-3% trị thời gian dài và 1-2% trị trong 10-15 phút.

BỆNH XUẤT HUYẾT

bệnh do vi khuẩn Aemomas hydrophia hoặc Edwardsiellatarda gây ra. Cá có dấu hiệu toàn thân bị xuất huyết, hậu môn sưng lồi, bụng trương to, có dịch vàng hoặc hồng, đầu và mắt cá sưng và lồi ra. Bệnh thường xuất hiện ở cá rô phi đỏ nuôi bè.

Biện pháp đề phòng: là tránh thả cá nuôi và hạn chế thay nước lúc giao mùa. Nên định kỳ bón khử trùng nơi cho ăn. cách trị là bón vôi và khử trùng nước, có thể trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn cá, tỷ lệ tuỳ theo tình trạng bệnh.

CÁ TRƯƠNG BỤNG DO THỨC ĂN

thường xảy ra ở các ao, bè cho cá ăn thức ăn tự chế không được nấu chín, không đảm bảo chất lượng làm cá không tiêu hoá được thức ăn, bụng cá trương to, ruột chứa nhiều hơi. Cá bơi lờ đờ và chết rải rác.

Biện pháp khắc phục: là kiểm tra chất lượng và thành phần thức ăn để điều chỉnh lại cho thích hợp. Nếu trường hợp nặng, thường xuyên có thể thay đổi thức ăn. Trong thức ăn nên bổ sung men tiêu hóa (các probiotic…) tag: ống xốp nuôi tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-thuong-gap-tren-ca-dieu-hong-va-cach-phong-tri-36581.html

Nuôi tôm trong mùa nắng nóng

Tình trạng nắng nóng kéo dài trong những ngày vừa qua làm môi trường ao nuôi tôm dễ biến đổi đột ngột, nhất là yếu tố pH và nhiệt độ nước. tag: máy o2-turbine

Từ đó, làm tôm nuôi bị sốc môi trường, sức khoẻ yếu và rất dễ bùng phát dịch bệnh. Nắng nóng còn làm nước ao tôm bốc hơi nhanh, độ mặn trong ao cũng tăng theo, tôm dễ phát sinh bệnh hoại tử gan tuỵ.

Bên cạnh đó, nắng nóng cùng với độ mặn tăng cao làm các loại cây cỏ thuỷ sinh trong ao tôm bị chết và phân huỷ nhanh là nguồn dinh dưỡng cho tảo phát triển mạnh, kéo theo sự biến đổi về độ trong của nước trong ao.

Tảo xuất hiện với mật độ dày cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng tôm nổi đầu vào buổi sáng do thiếu ô-xy, nếu nặng sẽ chết hàng loạt. Nước trong vuông nuôi cạn cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi pH của môi trường nuôi. Ðối với những vùng đất có nhiều phèn thì pH sẽ xuống thấp do phèn từ trong đất của nền đáy và bờ bao xì ra ao tôm.

Những yếu tố môi trường ao nuôi tôm càng thay đổi đột ngột hơn khi xuất hiện những cơn mưa trái vụ hay mưa đầu mùa với lưu lượng nước lớn. Khi đó, nước mưa sẽ cuốn trôi phèn từ bờ ao xuống ao nuôi tôm làm pH giảm thấp, nhiệt độ phân tầng, dẫn đến hiện tượng tôm yếu, bị chết đột ngột, mất khả năng đề kháng và dễ mắc bệnh. tag: máy quạt nước đài loan

Cần tuân thủ quy tắc quản lý ao nuôi tôm

Trong nuôi tôm, việc quản lý tốt các yếu tố môi trường nước trong vuông là rất quan trọng. Nếu giữ được sự ổn định các yếu tố nhiệt độ, độ mặn, pH, độ kiềm, ô-xy hoà tan… trong ngưỡng thích hợp sẽ giúp tôm phát triển tốt. Do đó, phải thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường và theo dõi hoạt động của tôm.

Người nuôi cần xây dựng ao lắng riêng, chủ động được nguồn nước và xử lý nước trước khi lấy vào ao nhằm tạo các yếu tố môi trường thuận lợi nhất cho sự phát triển của tôm, cũng như hạn chế mầm bệnh từ bên ngoài.

Ðồng thời, cần chủ động duy trì mực nước trong ao (trên 1,2 m) để hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tình trạng nắng nóng. Thường xuyên kiểm tra, gia cố bờ bao sau mỗi vụ nuôi để tránh tình trạng nước rò rỉ từ ngoài vào hay từ ao này sang ao khác.

Nếu nước trong ao tôm có màu đậm, pH cao, cần lập tức tiến hành thay 20% lượng nước hoặc cấp thêm nước vào ao nuôi thông qua ao lắng.

Vào mùa nắng nóng, đôi khi xuất hiện mưa trái mùa làm môi trường nước biến động, cần theo dõi, quản lý ao nuôi, đề phòng tôm bị sốc, ảnh hưởng đến hoạt động sống. Khi thấy có dấu hiệu mưa, cần rải vôi xung quanh ao tôm với liều lượng 10-15 kg/100 m2 để hạn chế phèn rửa trôi xuống ao nuôi.

Bên cạnh đó, nắng nóng thường làm độ mặn tăng cao, độ trong thấp, rong tảo phát triển nhiều, pH dao động trong ngày lớn, ô-xy giảm thấp vào ban đêm… dẫn đến tôm chậm lớn, bị đỏ thân do thiếu ô-xy… Nếu có điều kiện, cần cấp nước để bù vào lượng nước bốc hơi.

Nên cấp nước từ từ, khoảng 20-30% lượng nước trong ao, cấp vào lúc trời mát, khoảng sau 19 giờ đêm, cấp nước cần qua ao lắng và xử lý. Nên sử dụng chế phẩm sinh học định kỳ giúp ổn định môi trường, hạn chế khí độc trong ao nuôi.

Ngoài ra, nên thả tôm nuôi với mật độ vừa phải để dễ quản lý. Trong suốt quá trình nuôi, cũng nên ghi sổ nhật ký theo dõi các hoạt động hằng ngày để thuận tiện cho việc quản lý sức khoẻ tôm nuôi cũng như phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm. tag: ống xốp nuôi tôm